LỄ THÁNH PHÊ-RÔ VÀ THÁNH PHAO-LÔ (29/6) – MAN-NA CHO NGƯỜI LỮ HÀNH
THÁNH LỄ VỌNG
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Cv 3,1-10
Cái tôi có, tôi cho anh đây : Nhân danh Đức Giê-su, anh hãy đứng dậy mà đi.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
1 Khi ấy, ông Phê-rô và ông Gio-an lên Đền Thờ, vào buổi cầu nguyện giờ thứ chín. 2 Khi ấy, người ta khiêng đến một người què từ khi lọt lòng mẹ. Ngày ngày họ đặt anh ta bên cửa Đền Thờ gọi là Cửa Đẹp, để xin kẻ ra vào Đền Thờ bố thí. 3 Vừa thấy ông Phê-rô và ông Gio-an sắp vào Đền Thờ, anh liền xin bố thí. 4 Hai ông nhìn thẳng vào anh, và ông Phê-rô nói : “Anh nhìn chúng tôi đây !” 5 Anh ta chăm chú nhìn hai ông, tưởng rằng sẽ được cái gì. 6 Bấy giờ ông Phê-rô nói : “Vàng bạc thì tôi không có, nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi !” 7 Rồi ông nắm chặt lấy tay mặt anh, kéo anh trỗi dậy. Lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp. 8 Anh đứng phắt dậy, đi lại được ; rồi cùng với hai ông, anh vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa. 9 Toàn dân thấy anh đi lại và ca tụng Thiên Chúa. 10 Và khi nhận ra anh chính là người vẫn ngồi ăn xin tại Cửa Đẹp Đền Thờ, họ kinh ngạc sững sờ về sự việc mới xảy đến cho anh.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 18A,2-3.4-5ab (Đ. x. c.5a)
Đ. Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu.
2 Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm.
3 Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia. Đ.
4 Chẳng một lời một lẽ,
chẳng nghe thấy âm thanh,
5ab mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển. Đ.
Bài đọc 2 : Gl 1,11-20
Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.
11 Thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết : Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. 12 Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải. 13 Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái : tôi đã quá hăng say bắt bớ, và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. 14 Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi : hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.
15 Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. 16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, 17 cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát. 18 Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày. 19 Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa. 20 Viết cho anh em những điều này, tôi cam đoan trước mặt Thiên Chúa là tôi không nói dối.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Ga 21,17d
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con yêu mến Thầy. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Ga 21,15-19
Hãy chăn dắt chiên của Thầy.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
15 Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : Lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
* Vào lễ Vọng lễ kính trọng thể hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô, Phụng vụ đề nghị cho chúng ta ba bản văn trong số những bản văn đẹp nhất : bài đọc 1 trích từ sách Công vụ Tông Đồ kể lại việc thánh Phê-rô chữa lành một người què từ khi lọt lòng mẹ. Bài đọc 2 trích từ thư gửi tín hữu Ga-lát trong đó thánh Phao-lô nói về việc hoán cải và sứ vụ tông đồ của ngài. Cuối cùng bài Tin Mừng trích từ Tin Mừng Gio-an tường thuật việc Đức Giê-su trao cho thánh Phê-rô sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người.
Đoạn trích Tin Mừng thật tuyệt đẹp và cảm động vì xảy ra sau khi Đức Giê-su phục sinh và như vậy là sau cuộc Thương Khó, và cũng sau khi thánh Phê-rô chối Chúa ba lần. Thánh Phê-rô được Chúa chỉ định làm người đứng đầu Nhóm Mười Mai, ông không muốn nghe lời Đức Giê-su. Ông rất cố chấp chỉ theo ý riêng của mình ngay cả khi Đức Giê-su nói với ông : “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được” (Ga 13,36). Ba lần chối Chúa được đền bù bằng ba lần tuyên xưng lòng mến của mình (Ga 18,12-27). Sau Phục Sinh, Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ bên bờ hồ Ghen-nê-sa-rét, và vào cuối bữa ăn với các môn đệ, Người quay về phía ông Phê-rô và hỏi ba lần : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?”, “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?”, “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Đức Giê-su không hề đề cập rõ ràng đến việc ông Phê-rô chối Người, nhưng trao cho ông một cơ hội để chuộc lại tội chối Thầy bằng ba lần xác nhận yêu mến Thầy của mình. Chúng ta cần lưu ý rằng câu hỏi đầu tiên của Đức Giê-su mang dáng vẻ một thử thách, một cám dỗ : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Trước cuộc Thương Khó, ông Phê-rô tuyên bố yêu mến Đức Giê-su hơn tất cả các Tông Đồ khác khi nói : “Dù tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã” (Mt 26,33). Bây giờ, ông Phê-rô xấu hổ vì sự sa ngã của mình, trở nên khiêm tốn hơn và không dám nói mình yêu Đức Giê-su hơn các anh em khác, ông cũng không dám tuyên bố trực tiếp là mình yêu mến Đức Giê-su nhưng nói cách gián tiếp : “Thưa Thầy, có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Ông Phê-rô hồi tâm suy nghĩ rất khiêm tốn và chân thành, biết rằng Đức Giê-su hiểu rõ tình cảm của ông dành cho Người. Lúc đó Đức Giê-su bảo ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Lần thứ hai, Đức Giê-su hỏi ông Phê-rô cũng một câu hỏi trước đó, và ông Phê-rô cũng trả lời tương tự. Lần thứ ba, khi Đức Giê-su đưa ra cũng một câu hỏi như hai lần trước, ông Phê-rô cảm thấy bị tổn thương vì ông cảm thấy Đức Giê-su nghi ngờ tình thương của ông dành cho Người. Ông thưa : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con thương mến Thầy.” Như thế ông Phê-rô đền bù ba lần chối Thầy của ông, chúng ta có thể thấy trong cuộc đối thoại này sự tế nhị và đặc biệt cảm động trong tình yêu của Đức Giê-su dành cho ông Phê-rô. Một lần nữa Đức Giê-su giao phó cho ông Phê-rô sứ vụ đặc biệt : chăm sóc các chiên của Người. Dù ông đã ba lần chối Chúa, nhưng Đức Giê-su vẫn tin tưởng trao cho ông trọng trách chăm sóc Giáo Hội của Người. Sứ vụ này có nền tảng trên mối liên hệ tình yêu của ông Phê-rô và Thầy Chí Thánh của mình : nếu ông Phê-rô thương mến Đức Giê-su, ông sẽ tận tình chăm sóc đoàn chiên của Người. Quả thật, trong bức thư thứ nhất của mình, thánh Phê-rô khuyên các vị mục tử trong Giáo Hội đừng chú tâm tìm lợi ích cho riêng mình, sự giàu sang, quyền lực, nhưng phục vụ đoàn chiên Chúa giao phó cho các ngài (1 Pr 5,1-4). Như thế ông Phê-rô được xác nhận đứng đầu các Tông Đồ. Đức Giê-su nói với ông : “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá và trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16,18). Bây giờ, mặc dầu đã chối Chúa ba lần trong cuộc Thương Khó, nhưng Đức Giê-su vẫn tín nhiệm cho ông Phê-rô sứ vụ phổ quát này.
Bài đọc 1 cho ta thấy ông Phê-rô đã kết hợp với Đức Giê-su cách khiêm tốn và quảng đại như thế nào. Bài đọc 1 kể lại việc chữa lành một người què từ khi lọt lòng mẹ, mỗi ngày được khiêng đến ngồi ở “Cửa Đẹp” của Đền Thờ để xin bố thí. Người què xin ông Phê-rô và ông Gio-an bố thí cho mình. Ông Phê-rô nói với anh ta : “Anh nhìn chúng tôi đây.” Rồi ông nói thêm : “Vàng bạc thì tôi không có, nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi !” Ông Phê-rô hành động cách khiêm tốn vì ông biết mình không thể chữa lành cho người tàn tật này, nhưng nhân danh Đức Giê-su là Đấng đã làm phép lạ này. Tuy nhiên ông Phê-rô cũng chứng tỏ lòng quảng đại của mình : chỉ mình ông đưa ra sáng kiến theo gương Đức Giê-su. Người đã chữa lành một người bại liệt khi nói : “Hãy đứng dậy vác lấy giường của anh mà đi về nhà” (25,24). Ông Phê-rô cũng nói với người tàn tật như thế : “Anh đứng dậy mà đi !” Rồi ông nắm chặt lấy tay mặt anh, kéo anh trỗi dậy, lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp. Anh đứng dậy, đi lại được ; rồi cùng với hai ông, anh vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót mà ca tụng Thiên Chúa. Sứ vụ của ông Phê-rô là tiếp tục sứ vụ của Đức Giê-su làm việc thiện và giúp hoán cải con người. Trong ý định của Thiên Chúa, việc làm này khiến cho nhiều người trở lại cùng Chúa.
* Thánh Phao-lô không thuộc Nhóm Mười Hai. Vào thời điểm đó, ông là kẻ thù của Giáo Hội, ông tìm cách phá hoại, bách hại ác liệt các Ki-tô hữu như chính ông đã nhắc trong thư gửi tín hữu Ga-lát : “Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do-thái : tôi đã quá hăng say bắt bớ và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa” (Gl 1,13). Ở đây thánh Phao-lô muốn nhấn mạnh là mặc khải ngài nhận được là chính thống. Dù quá khứ không mấy tốt đẹp của ngài, bây giờ ngài đã trở nên một tông đồ đích thực. Thánh Phao-lô không khám phá ra Tin Mừng, nhưng đã đón nhận Tin Mừng đích thực do Đức Giê-su mặc khải cho. Thánh Phao-lô nhấn mạnh tính cách lạ lùng của việc ngài trở lại cùng Chúa và sứ vụ tông đồ của ngài. Không có gì báo trước là ngài sẽ trở nên tông đồ, mà trái lại theo một chiều hướng hoàn toàn ngược lại như ngài nhắc lại : “Trong việc giữ đạo Do-thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi, hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.” Thánh Phao-lô là một người Biệt phái và chúng ta thấy trong Tin Mừng, nhóm này luôn đối nghịch với Đức Giê-su. Thánh nhân là một người Biệt phái nhiệt thành, hăng hái bắt bớ các Ki-tô hữu, muốn bách hại và huỷ diệt Hội Thánh Chúa. Tuy nhiên ơn Chúa ban cho ngài thật là dồi dào và rất hữu hiệu. Quả thật, ông Phao-lô đã được Chúa chọn ngay từ trong lòng mẹ để làm Tông Đồ của Chúa. Sự trở lại của ngài không phải là một biến cố đột ngột, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị từ lâu theo cách của Người. Chúa đã gọi ông Phao-lô vì yêu thương ông, để mặc khải cho ông Con độc nhất của Người là Đức Giê-su Ki-tô và trao cho ông sứ vụ loan báo Đức Giê-su Phục Sinh cho các dân tộc ngoại giáo. Như vậy ông Phao-lô được Đức Giê-su gọi để thi hành một sứ vụ phổ quát. Mười hai Tông Đồ, trong cuộc đời công khai của Đức Giê-su, đã nhận trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho “các chiên lạc nhà Ít-ra-en” (Mt 10,6). Tuy nhiên, sau Phục Sinh, chính Đức Giê-su đã mở rộng trách nhiệm này đến toàn thể thế giới (Mt 28,18-20). Ta có thể thấy, trong sách Công vụ Tông Đồ, lệnh truyền này không rõ ràng lúc ban đầu và các Tông Đồ không quay về phía dân ngoại vì gặp khó khăn. Trái lại thánh Phao-lô, sau khi trở lại, đã trực tiếp rao giảng cho thế giới dân ngoại. Lúc bấy giờ giữa những người Biệt phái và dân ngoại hoàn toàn đối nghịch nhau. Thánh Phao-lô đã hoán cải, và từ lúc đó, ngài đã từ bỏ hoàn toàn sự đối nghịch này. Ngài quyết tâm phục vụ dân ngoại. Hoàn toàn không có sự nâng đỡ, kể cả các Tông Đồ, ngài đã bắt đầu rao giảng ngay lập tức ở Đa-mát rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, là Con Thiên Chúa. Cuộc trở lại của thánh Phao-lô là một biến cố hết sức kỳ lạ, trong đó biểu lộ rõ nét ân sủng của Thiên Chúa. Hiệu quả phong phú của cuộc trở lại này thật là phi thường vì cho đến ngày nay vẫn còn sống động. Thánh Phao-lô đi rao giảng tại nhiều xứ sở : Thổ Nhĩ Kỳ, Hy-lạp, đảo Síp và Rô-ma là nơi dù bị cầm tù, ngài vẫn can đảm rao giảng Tin Mừng. Hơn nữa ngài còn viết nhiều thư mà ngày nay vẫn là một kho tàng quý báu cho đức tin của Giáo Hội, một kho tàng do sứ vụ tông đồ và lòng bác ái của ngài.
* Lễ kính trọng thể hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô giúp chúng ta nhớ đến tình yêu của Chúa : một tình yêu tế nhị đối với thánh Phê-rô, dù ông đã chối Chúa ba lần ; một tình yêu mãnh liệt dành cho Phao-lô, dù ngài đã bách hại Giáo Hội. Chúng ta cần luôn nhớ rằng ơn Chúa vẫn luôn đủ cho chúng ta và luôn nâng đỡ chúng ta trong cuộc sống đức tin thường ngày. Chúng ta phải luôn vui mừng tạ ơn Chúa. Xin hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô nhắc nhở chúng ta luôn hết lòng tạ ơn Chúa, và tìm được niềm vui thiêng liêng cũng như một sức bật mới trong tình yêu đối với Chúa và trung thành với sứ mạng rao giảng Tin Mừng của chúng ta.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa là Cha giàu lòng thương xót, xin cho chúng con luôn ghi nhớ tình thương và sự tha thứ không giới hạn của Chúa đối với những ai biết thật lòng sám hối ăn năn.
Tự vấn :
Khi lỡ sa ngã phạm tội, chúng ta có mau mắn chạy đến với Chúa để xin Người tha thứ qua bí tích Giải Tội không ?
THÁNH LỄ CHÍNH NGÀY
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Cv 12,1-11
Bây giờ tôi biết thật sự là Chúa đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
1 Thời ấy, vua Hê-rô-đê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. 2 Nhà vua đã cho chém đầu ông Gia-cô-bê là anh ông Gio-an. 3 Thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa. Bấy giờ đang là tuần lễ Bánh Không Men. 4 Bắt được rồi, nhà vua truyền tống ngục và giao cho bốn tốp lính canh gác, mỗi tốp gồm bốn người, định sau lễ Vượt Qua sẽ điệu ông ra cho dân chúng. 5 Đang khi ông Phê-rô bị giam giữ như thế, thì Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông.
6 Trong đêm trước ngày bị vua Hê-rô-đê đem ra xử, ông Phê-rô ngủ giữa hai người lính, và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. 7 Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phê-rô, đánh thức ông và bảo : “Đứng dậy mau đi !” Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. 8 Thiên sứ nói tiếp : “Thắt lưng lại và xỏ dép vào !” Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo ông : “Khoác áo choàng vào và đi theo tôi !” 9 Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mình thấy một thị kiến. 10 Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cửa sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi. 11 Lúc ấy ông Phê-rô mới hoàn hồn và nói : “Bây giờ tôi biết thật sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê, và khỏi mọi điều dân Do-thái mong muốn tôi phải chịu.”
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 33,2-3.4-5.6-7.8-9 (Đ. x. c.5)
Đ. Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,
câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.
3 Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa,
xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên. Đ.
4 Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa,
ta đồng thanh tán tụng danh Người.
5 Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại,
giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng. Đ.
6 Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở,
không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi.
7 Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhậm lời,
cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn. Đ.
8 Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh
để giải thoát những ai kính sợ Người.
9 Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy :
hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người ! Đ.
Bài đọc 2 : 2 Tm 4,6-8.16b.17-18
Tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi ông Ti-mô-thê.
6 Anh thân mến, phần tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. 7 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. 8 Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính ; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
16b Mọi người đã bỏ mặc tôi. 17 Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. 18 Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Mt 16,18
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Mt 16,13-19
Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài chia sẻ 1
Bài đọc 1 : Cv 12,1-11
1. Để có thể hiểu rõ bài đọc 1 hôm nay, chúng ta cần nhìn lại bối cảnh thời Giáo Hội sơ khai lúc ông Phê-rô được giải thoát lạ lùng. Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, chịu đóng định thập giá vào tháng 4 năm 30. Lúc đầu số tín hữu còn rất ít, nhưng rồi số người tin vào Đức Giê-su Ki-tô ngày càng gia tăng nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động, nhờ lời giảng dạy của ông Phê-rô, nhất là sau khi các Tông Đồ làm nhiều phép lạ, như trường hợp ông Phê-rô chữa lành cho một người què từ lúc mới sinh, hằng ngày ngồi ăn xin tại “Cửa Đẹp” của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Khi anh này thấy hai ông Phê-rô và Gio-an vào Đền Thờ, thì xin bố thí. Ông Phê-rô nói : “Vàng bạc thì tôi không có ; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây : nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi !” Rồi ông nắm chặt lấy tay mặt anh, kéo anh đứng dậy. Lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp. Anh đứng phắt dậy, đi lại được, rồi cùng với hai ông, anh vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa. Vì việc nghĩa này mà hai ông Phê-rô và Gio-an bị bắt, bị tống giam vào ngục, và hôm sau thì bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng. Họ răn đe, cấm các ông không được giảng cho dân chúng về Đức Giê-su, vì sau bài giảng đầu tiên của ông Phê-rô, đã có năm ngàn người trở lại đạo.
* Lần thứ hai, ông Phê-rô bị bắt cùng với các Tông Đồ khác mà Lu-ca không nêu tên, nhốt vào nhà tù công cộng, nhưng ban đêm thiên sứ của Đức Chúa mở cửa ngục đưa các ông ra và nói : “Các ông hãy đi, vào đứng trong Đền Thờ mà nói cho dân chúng những lời ban sự sống.” Nghe thế, các ông vào Đền Thờ ngay từ lúc rạng đông và bắt đầu giảng dạy. Ngay sau đó, các Tông Đồ lại bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng lần thứ hai. Khi bị chất vấn, các ông trả lời : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm.” Nhờ sự can thiệp của ông Ga-ma-li-en, nên các Tông Đồ chỉ bị đánh đòn rồi được thả ra. Các ông ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng đầy hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su.
* Lần thứ ba chúng ta vừa nghe trong bài đọc 1. Chúa giải thoát ông Phê-rô cách kỳ diệu, nhưng điều tác giả Lu-ca đặc biệt quan tâm ở đây là sứ mạng rao giảng Tin Mừng của các Tông Đồ mà tôi vừa kể ở trên.
* Chúng ta cũng cần tìm hiểu một con người mà các Ki-tô hữu thời sơ khai coi là kẻ thù : đó là vua Hê-rô-đê A-ríp-pa, cháu nội của vua Hê-rô-đê Cả. Ông này muốn làm hài lòng cả người Rô-ma lẫn người Do-thái, đến nỗi người ta gọi ông là người Rô-ma ở Xê-da-rê, và là người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem. Chính ông ta ra lệnh chém đầu ông Gia-cô-bê và tống giam ông Phê-rô, nhưng ông được giải thoát cách lạ lùng như chúng ta nghe trong bài đọc 1.
* Khi kể lại câu chuyện ông Phê-rô được Chúa giải thoát cách lạ lùng, tác giả Lu-ca muốn giúp độc giả hiểu rằng Thiên Chúa tiếp tục công trình của Người : Thiên thần chỉ nói vài lời với ông Phê-rô, nhưng giống cách kỳ lạ với các mệnh lệnh đã được ban cho dân Ít-ra-en trong đêm Xuất hành khỏi Ai-cập : “Các ngươi phải ăn thế này : lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã” (Xh 12,11). Ông Phê-rô nghe nói : “Đứng dậy mau đi ! Thắt lưng lại và xỏ dép vào. Khoác áo choàng vào và đi theo tôi !” Rồi tất cả câu chuyện về sự giải thoát kỳ diệu ông Phê-rô được viết theo mô hình và từ ngữ cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Ki-tô. Việc ông Phê-rô bị tống giam vào ngục ở chương 12 sách Công vụ Tông Đồ và cuộc Thương Khó của Đức Giê-su trong Tin Mừng Lu-ca chương 22–24 có bối cảnh giống nhau : ban đêm, nhà tù, lính canh. Ông Phê-rô ngự giữa hai người lính canh, bình an hay không, thánh Lu-ca không nói, nhưng ông thụ động, thiên thần bảo gì ông làm theo ngay ; còn Đức Giê-su ngủ giấc ngủ của sự chết. Đối với cả hai vị, ánh sáng chiếu soi trong đêm tối, chính Thiên Chúa đang hành động. Đức Giê-su đã nói rõ với ông Phê-rô : “Quyền lực của sự chết, nghĩa là của sự thù hận, sẽ không thắng thế.”
Hãy đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa khi gặp thử thách gian nan và hãy mạnh dạn làm chứng cho Người bằng một đời sống thấm đượm tình bác ái yêu thương.
Đáp ca : Tv 33
Thánh vịnh 33 kể lại việc Chúa cứu độ người lành : “Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh để giải thoát những ai kính sợ Người.” Chúng ta không hề ngạc nhiên khi nghe hát thánh vịnh này, sau khi nghe kể lại việc ông Phê-rô được Chúa cứu khỏi ngục một cách lạ lùng. Sách Công vụ Tông Đồ cho chúng ta biết khi ông Phê-rô bị giam giữ như thế, thì Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông : “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhậm lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn.” Đức tin hệ tại ở điểm này : dám kêu cầu Chúa và biết chắc rằng trong mọi hoàn cảnh, Người luôn nghe tiếng kêu cứu của chúng ta. Chúa đã nghe tiếng kêu cứu của cộng đoàn và ông Phê-rô đã được giải thoát cách lạ lùng.
Trong cuộc sống thường ngày, nhiều khi chúng ta cầu nguyện liên lỉ khi gặp thử thách gian truân, nhưng đôi lúc chúng ta có cảm tưởng như Chúa không nghe lời chúng ta cầu xin, dù chúng ta đã tha thiết khẩn cầu, làm Tuần cửu nhật, kể cả đi hành hương nữa. Chúng ta hãy ghi nhớ ba điểm sau đây :
1. Thứ nhất : Thiên Chúa luôn nghe tiếng kêu xin của chúng ta. Hãy nhớ lại biến cố bụi cây bốc cháy trong chương 3 sách Xuất hành. Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng” (Xh 3,7).
2. Thứ hai : Thiên Chúa đáp lại lời khẩn cầu của chúng ta bằng cách ban cho ta Thần Khí của Người. Khi chúng ta cầu nguyện, Thiên Chúa không làm biến mất mọi nỗi âu lo, mọi gian nan thử thách của chúng ta bằng một chiếc đũa thần, nhưng Người ban cho chúng ta đầy tràn Thần Khí của Người, nhờ đó chúng ta có thể đương đầu với những khó khăn chúng ta gặp trong cuộc sống đức tin thường ngày.
3. Thứ ba : Thiên Chúa gửi đến bên cạnh chúng ta những người anh em, những người giúp đỡ ta, như trường hợp Chúa sai ông Mô-sê đi cứu dân Chúa khỏi ách nô lệ Ai-cập.
Bài đọc 2 : 2 Tm 4,6-8.16b.17-18
Thánh Phao-lô đang ngồi tù tại Rô-ma. Ngài biết rằng sắp phải đổ máu đào ra làm lễ tế, đã đến giờ phải ra đi, nghĩa là giờ chết sắp đến. Cảm thấy Thầy đang chờ đón mình, thánh Phao-lô dùng hai hình ảnh rất thân thuộc đã dùng trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê. Đó là hình ảnh máu đổ ra làm lễ tế (Pl 2,17). Cũng như người ta đổ dầu, rượu, nước trên của lễ thời Cựu Ước (Xh 29,40 ; Ds 28,7), thì thánh Phao-lô cũng sắp đổ máu ra làm lễ tế để làm chứng cho Chúa. Hình ảnh thứ hai là một cuộc ra đi như đã nói trong Pl 1,23. Chữ dùng ở đây có ý nói về một chiếc tàu nhổ neo căng buồm ra khơi hay về những người lính cuốn lều nhổ trại.
“Tôi đã chiến đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.” Cuộc chiến đấu làm ta liên tưởng đến người chiến binh phải gan dạ, anh dũng, xông pha, mạo hiểm. Chạy hết chặng đường cho thấy một con người đã dốc hết nghị lực ra để thi hành nhiệm vụ và giữ vững niềm tin, chứng tỏ một con người trung thành. “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.” Chúng ta đừng nghĩ rằng ngài tự phụ nhưng là lòng tín thác vào lòng nhân từ của Thiên Chúa : “Chúa là Vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.”
Ta hãy noi gương thánh Phao-lô giữ vững niềm tin đến cùng, dù gặp vô vàn thử thách gian nan trong đời sống đức tin thường ngày.
Bài Tin Mừng : Mt 16,13-19
1. Đối với tác giả Mát-thêu, sự kiện thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin tại Xê-da-rê là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su, vì sau đó Mát-thêu nói thêm : “Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.” Kiểu nói “từ lúc đó” cho thấy rõ ràng là một chặng đường mới đã bắt đầu. Tuy nhiên điều mới này là đáng ngạc nhiên nhất trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe vì không có gì mới mẻ được công bố ở đây, bởi lẽ Đức Giê-su gán cho mình tước hiệu “Con Người” đến 9 lần trong Tin Mừng Mát-thêu, và Phê-rô gán cho Người tước hiệu Con Thiên Chúa, cũng không phải là người đầu tiên làm việc này đâu.
* Tước hiệu thứ nhất “Con Người”, một cụm từ được rút ra từ chương 7 sách Đa-ni-en : “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến ; Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị ; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một ; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,13-14). Vài câu sau đó, ngôn sứ Đa-ni-en xác định rằng Con Người này không phải là một cá nhân đơn độc, mà là một dân tộc. Khi áp dụng cho mình tước hiệu Con Người, Đức Giê-su tự giới thiệu mình như là Đấng đứng đầu dân Thiên Chúa.
* Tước hiệu thứ hai được gán cho Người : “Con Thiên Chúa”. Đây cũng không phải là lần đầu tiên. Ngay từ đầu Tin Mừng, ở chương 4, chính ma quỷ cám dỗ Đức Giê-su trong hoang địa, đã sử dụng tước hiệu này : “Nếu ông là Con Thiên Chúa”. Sau đó, hai người bị quỷ ám ở Ga-da-ra, một thị trấn trong vùng đông nam hồ Ga-li-lê, cách bờ hồ mấy cây số, thuộc miền Thập Tỉnh, nói với Đức Giê-su : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ?” Cuối cùng, đó là phép lạ Đức Giê-su đi trên mặt biển đến với các môn đệ vào khoảng canh tư sau khi lên núi một mình mà cầu nguyện. Các ông hoảng hốt và sợ hãi la lên : “Ma đấy !” Sau khi cứu ông Phê-rô lên khỏi nước khi ông gần chìm, các môn đệ bái lạy Người và nói : “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa !”
* Điều mới mẻ ở Xê-da-rê là ông Phê-rô không tuyên xưng đức tin trước việc Đức Giê-su biểu lộ quyền năng của Người như khi Người đi trên mặt nước đến với các ông. Bây giờ một chặng đường đã được vượt qua, không còn mơ hồ về tước hiệu Con Thiên Chúa. Ông Phê-rô đang trên đường đi tới đức tin : “Này anh Si-môn, con ông Gio-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy ; nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”
* Ngay khi ông Phê-rô khám phá ra Đức Giê-su là ai, Người liền trao cho ông một sứ mạng quan trọng : “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Hội Thánh được Đức Giê-su thiết lập bằng Giao ước mới trong chính Máu của Người (Mt 26,28). Hội Thánh chính là Nước Trời trên trần gian, một xã hội có cơ cấu và tổ chức dưới quyền thủ lãnh của ông Phê-rô.
* Chìa khoá cũng như cầm buộc, tháo cởi đều là những từ chuyên biệt mượn của Do-thái giáo để nói lên quyền của ông Phê-rô nhận vào hay loại khỏi Nước Trời, quyền đưa ra những quyết định giáo lý hoặc pháp lý, cho phép hay cấm chỉ để điều hành trong cộng đoàn, trong lãnh vực đức tin và luân lý. Những lời hứa này không chỉ là hứa cho cá nhân ông Phê-rô, mà còn cho các đấng kế vị thánh Phê-rô, là các Đức Giáo Hoàng, vì Hội Thánh phải tồn tại cho đến ngày tận thế.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã chọn và đặt thánh Phê-rô làm vị Giáo hoàng thứ nhất của Giáo Hội, xin Chúa thương bảo vệ Đức Thánh Cha đương kim là đấng kế vị thánh Phê-rô. Xin Chúa cho chúng con cũng biết thực hiện lời dạy của thánh Phao-lô tông đồ : “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.”
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có cầu nguyện cho Giáo Hội là Người Mẹ thiêng liêng của tất cả chúng ta không ?
Bài chia sẻ 2
* Trong lễ kính trọng thể hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô, Giáo Hội nói với chúng ta về hai gương mặt vĩ đại này trong tất cả các bài đọc. Trong bài Tin Mừng, ông Phê-rô nhận được ơn linh hứng và tuyên xưng thần tính của Đức Giê-su và tử hệ Thần Linh của Người, thì được nhận lãnh sứ vụ làm đá tảng trên đó Đức Giê-su xây Hội Thánh của Người. Bài đọc 1 cho ta thấy sự quan phòng của Chúa kỳ diệu như thế nào khi giải thoát thánh Phê-rô cách hết sức lạ lùng để thánh nhân làm người đứng đầu Giáo Hội và hoàn thành sứ mạng của mình. Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô báo cho biết ngài sắp bị kết án tử hình, nhưng đồng thời ngài cho biết là Chúa sẽ giải thoát ngài.
Bài Tin Mừng trong thánh lễ hôm nay đặc biệt quan trọng vì được dùng làm nòng cốt cho câu chuyện trong các Tin Mừng Nhất Lãm. Phần thứ nhất của các Tin Mừng là con đường dẫn đến câu chuyện này. Đức Giê-su xuất hiện với lời giáo huấn, các phép lạ và lòng thương xót của Người. Sau giai đoạn đó là nói về cuộc Thương Khó và việc Đức Giê-su đi lên Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-su làm rất nhiều phép lạ, đám đông nói rất nhiều về Người. Lúc bấy giờ Người hỏi các môn đệ : “Người ta nói Con Người là ai ?” Kiểu nói “Con Người” được Đức Giê-su sử dụng để nói về chính bản thân Người. Các môn đệ hiểu ngay và trả lời : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” Tất cả những giả thiết này làm nổi bật tầm quan trọng của Đức Giê-su, nhưng trong thực tế không có một nền tảng nào. Đức Giê-su không phải là ông Gio-an Tẩy Giả, cũng không phải là ông Ê-li-a, hay ông Giê-rê-mi-a, hay bất cứ một ngôn sứ cổ xưa nào cả. Lúc bấy giờ Đức Giê-su mới hỏi các môn đệ : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” Được ơn linh hứng, ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Đây là một lời tuyên xưng rõ ràng, đầy đủ về Đức Giê-su. Người không phải là một vị ngôn sứ, kể cả vị ngôn sứ lớn nhất trong số các vị ngôn sứ, nhưng Người là Đấng Mê-si-a, là Vua được Thiên Chúa sai đến để mang ơn cứu độ cho dân Ít-ra-en và trở nên ánh sáng muôn dân. Câu trả lời của ông Phê-rô là một lời xác nhận “Con Thiên Chúa hằng sống”. Trong lời sấm của ngôn sứ Na-than, ai cũng hiểu rằng đó là lời loan báo về Đấng Mê-si-a, ông nói rằng Thiên Chúa sẽ là Cha của Đấng Mê-si-a, và Đấng Mê-si-a sẽ là Con của Thiên Chúa. Vì thế, lời quả quyết này của ông Phê-rô quy chiếu về Kinh Thánh. Trong nhiều tình huống, Đức Giê-su tỏ ra mình là Con Thiên Chúa : qua lời cầu nguyện, lời giáo huấn, lòng thương xót. Ông Phê-rô tuyên xưng Người không chỉ là Đấng Mê-si-a, mà còn là Con Thiên Chúa hằng sống. Lúc bấy giờ Đức Giê-su cho ông Phê-rô biết rằng ông được Thiên Chúa linh hứng. Lời tuyên xưng của ông không phải là một câu trả lời khôn ngoan theo kiểu loài người, nhưng là một ơn linh hứng từ trời, cho phép ông nhận ra căn tính đích thực của Đức Giê-su : “Này anh Si-môn, con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”
Chúng ta cần luôn nhớ rằng đức tin của chúng ta là một ân huệ của Thiên Chúa. Một lý luận thuần tuý nhân loại không thể đem lại một niềm tin đích thực. Đức tin là một cái gì sâu xa hơn và thuộc một đẳng cấp cao hơn, đẳng cấp siêu nhiên. Đức tin là ân huệ Thiên Chúa ban cho chúng ta vì giúp chúng ta nhận biết Con Thiên Chúa dưới vẻ bề ngoài của một con người giống như bao nhiêu người khác. Sau đó Đức Giê-su nói với ông Phê-rô : “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Chúa Cha đã mặc khải cho ông Phê-rô tính Thiên Sai, tử hệ Thần Linh của Đức Giê-su. Từ đó, Đức Giê-su xác nhận rằng ông Phê-rô được Thiên Chúa chọn để trở thành đá tảng góc tường Giáo Hội của người. Trong ngôn ngữ A-ram, Đức Giê-su dùng từ Kê-pha có nghĩa là “tảng đá”. Vì thế, Người nói với ông : “Anh là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Giáo Hội không được xây dựng trên cát nhưng trên đá tảng, nên ông Phê-rô được biến thành tảng đá nhờ mặc khải Thần Linh và niềm tin của ông vào sự mặc khải này. Rồi Đức Giê-su thêm : “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” Không bao giờ có người nào lãnh nhận được một sứ vụ và một quyền năng như vậy. Cho nên ông Phê-rô là vị Tông Đồ có quyền tối cao trên tất cả mọi thành viên khác của Giáo Hội và quyền đó là để phục vụ Giáo Hội và Thiên Chúa. Ngài nhận lãnh trực tiếp nơi Đức Giê-su quyền lực vô song này. Chúng ta có thể thán phục sự quảng đại của Thiên Chúa : sự quảng đại của Chúa Cha mặc khải cho ông Phê-rô Con của Người và sự quảng đại của Đức Ki-tô trao phó cho ông Phê-rô một sứ vụ và một quyền hành quan trọng như nhau.
* Thánh Phê-rô hoàn thành sứ vụ với biết bao khó khăn và trở ngại. Bài đọc 1 kể lại cho chúng ta những hoàn cảnh đáng lo ngại lúc ông Phê-rô bị bắt, và có nguy cơ bị kết án tử hình. Vua Hê-rô-đê quyết định bắt ông Phê-rô vì muốn làm đẹp lòng người Do-thái đang trở nên thù địch với cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ. Tình hình rất đáng lo âu, vì ông Phê-rô không còn cơ hội để điều khiển Giáo Hội và sứ vụ của ông có thể bị thất bại. Tuy nhiên, sự quan phòng của Chúa thật lạ lùng, việc Chúa giải cứu ông Phê-rô thật kỳ diệu mà thánh Lu-ca kể lại thật hấp dẫn. Trong lúc ông Phê-rô bị hai người lính canh giữ và bị khoá vào hai cái xiềng lúc ngủ, bỗng nhiên ánh sáng chói rực phòng giam. Một thiên sứ của Thiên Chúa đập vào cạnh sườn ông Phê-rô, đánh thức ông và bảo : “Đứng dậy mau đi !” Sau đó mọi việc diễn ra một cách dễ dàng đáng kinh ngạc, đúng là một phép lạ : Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông, cửa tự động mở ra trên lối ông đi ra. Lúc đó ông Phê-rô tin chắc rằng mình không nằm mơ khi đi ra khỏi ngục bước vào phố, ông tin rằng Chúa giải thoát ông để ông tiếp tục sứ vụ của mình. Ông nói : “Bây giờ tôi biết thật sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi khỏi tay vua Hê-rô-đê, và khỏi mọi điều người Do-thái muốn tôi phải chịu.” Ông Phê-rô, sau khi được giải thoát, đã tiếp tục hoàn thành sứ vụ Chúa đã giao phó cho ông và kết thúc sứ vụ với cuộc tử đạo tại Rô-ma, bằng cách chịu đóng đinh ngược, đầu dưới đất và chân lên trời.
Bài đọc 2 đặt song song số phận của thánh Phao-lô và sự xác tín của ông là được Chúa cứu. Trong bài đọc 2 trích từ thư gửi cho ông Ti-mô-thê, ngài ý thức rõ rằng mình sắp kết thúc : “Phần tôi, tôi sắp đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi.” Trong những lễ tế xưa, người ta thường lấy máu để rảy lên con vật bị sát tế. Thánh Phao-lô tiếp tục : “Tôi đã chiến đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường.” Chắc chắn thánh Phao-lô cũng nhận được phần thưởng : “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính ; Chúa là Vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy.” Những hoàn cảnh bất lợi mà thánh Phao-lô gặp phải, thì ngài cho rằng đó là hậu quả tất yếu của sứ vụ Chúa giao cho ngài, nhưng không phải là một thất bại mà là một sự giải thoát. Cho nên ngài nói : “Có Chúa là Đấng phù trợ tôi … nhờ đó tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử.” Trong thời gian thụ án, thánh Phao-lô đã được Chúa phù trợ, nghĩa là được Chúa giải thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc của các đối thủ, sẽ cứu và đưa ngài vào vương quốc của Chúa. Ở đây ta thấy ơn cứu độ thánh Phao-lô đề cập là ơn cứu độ vĩnh viễn. Thánh Phao-lô kết luận : “Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời.” Ngài hiểu rằng sứ vụ của mình sẽ hoàn thành bằng cuộc tử đạo, nhưng đó không phải là một thất bại mà là một chiến thắng vang dội của một sứ vụ thành công vượt bậc.
* Lễ kính trọng thể hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô đem lại cho chúng ta niềm vui và sự tin tưởng. Chúng ta cần nhớ rằng Chúa luôn quan tâm đến chúng ta, sự quan phòng của Người gìn giữ Giáo Hội, hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô tiếp tục chuyển cầu cho Giáo Hội và hướng dẫn Giáo Hội di chuyển trên những nẻo đường của lịch sử. Dù gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Giáo Hội vẫn tiếp tục con đường của mình. Chúng ta cùng tiến bước với Giáo Hội trong sự tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và trung thành với Giáo Hội được Đức Ki-tô thiết lập, trên nền tảng là các Tông Đồ.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin ban cho Giáo Hội luôn được bình an, nhờ lời chuyển cầu của hai thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có yêu mến và bênh vực Giáo Hội, người Mẹ thiêng liêng của chúng ta không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Phê-rô – Phao-lô, tuy hai mà một”
(Thánh Augustinô, Bài giảng lễ hai thánh Phê-rô – Phao-lô).
Đối với chúng ta, cuộc tử đạo của hai thánh tông đồ Phê-rô – Phao-lô đã làm cho ngày này thành ngày thánh. Chúng ta không thể kể các ngài vào số các vị tử đạo ít tiếng tăm, vì lời các ngài rao giảng đã vang dội khắp trái đất, đến tận cùng thế giới. Trọn cuộc đời đã sống theo đức công chính là rao truyền sự thật và chết cho sự thật, nên các ngài đã được nhìn thấy kết quả lời mình đã rao giảng.
Đó chính là thánh cả Phê-rô, vì tông đồ trưởng, người đã yêu mến Đức Ki-tô như điên cuồng, người đã được hạnh phúc nghe chính Chúa nói với mình : “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô.” Vì chính ngài vừa mới tuyên xưng : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Nên Chúa Ki-tô mới đáp lời : “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết, anh là Phê-rô, và trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” (Có nghĩa là) trên tảng đá này, Thầy sẽ xây niềm tin anh vừa tuyên xưng. Trên lời anh vừa nói : Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. Vì anh là Phê-rô (Kê-pha) có nghĩa là đá. Danh xưng Phê-rô phát xuất từ đó, giống như danh xưng Ki-tô hữu phát xuất từ Đức Ki-tô vậy.
Như anh em đã biết, trước cuộc Thương Khó, Đức Giê-su chọn lấy mười hai môn đệ và gọi họ là các Tông Đồ. Trong số đó, chính ông Phê-rô là người có đủ tư cách để tượng trưng toàn thể Hội Thánh ở nơi mình. Chính bởi ông mang tư cách là Hội Thánh nơi mình nên mới được hạnh phúc nghe Chúa nói với ông : Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời. Thật ra không phải chỉ có một người đã nhận những chìa khoá này mà thôi, mà là Hội Thánh trong tư cách hiệp nhất. Điều này càng làm nổi bật vai trò trổi vượt của thánh Phê-rô, vì ngài đã tiêu biểu cả tính phổ quát và tính duy nhất của Hội Thánh, khi được Lời Chúa nói : Thầy trao cho anh, vậy là đã được trao cho tất cả. Quả thật, để anh em biết rằng chính Hội Thánh đã nhận chìa khoá Nước Trời, thì xin hãy nghe lời Chúa phán với tất cả các Tông Đồ ở một nơi khác : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.” Và liền sau đó : “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ …” (Ga 20,23).
Hội Thánh mừng cuộc khổ nạn của hai thánh tông đồ vào cùng chung một ngày. Nhưng tuy hai mà một, dù rằng hai ngài đã phải chịu khổ trong những ngày tháng khác nhau. Hai ngài đã nên như một. Ông Phê-rô đi trước, ông Phao-lô theo sau.
Hôm nay, ngày mà hai vị thánh cả đã lấy máu mình mà thánh hiến, chúng ta cùng tôn vinh và mừng lễ kính hai ngài. Hãy ngưỡng mộ lòng tin và cuộc đời của các ngài, cùng với bao gian nan đau khổ các ngài đã trải qua ; hãy tuyên xưng điều các ngài đã tin và thực hành điều các ngài đã giảng dạy.
2. “Hội Thánh phải nỗ lực tập trung vào cái cốt lõi của lòng tin”
(Thư chung của hàng Giám Mục Pháp, Cerf, tr. 39).
Tình hình hiện nay dù đôi khi làm ta hoảng hốt, nhưng cũng đem lại cơ may cho ta. Ta phải cố gắng cùng nhau đi vào cái cốt lõi mà một người tin phải sống.
Ngày nay tại Pháp, người ta có thể nhìn nhận chắc chắn điều này là những nguy cơ của một thời làm việc trong Giáo Hội như những công chức ăn lương, nay hầu như không còn ! Thật vậy, làm sao mà người ta có thể kiên trì phục vụ Tin Mừng, khi không biết mình đặt tin tưởng vào ai, và để tâm lắng nghe tiếng mời gọi của người ấy ? Tuy nhiên cũng phải nói ngay là tất cả chúng ta đều cần nương tựa vào nhau để giúp nhau đi tới điều cốt lõi của niềm tin.
Lời kêu gọi mạnh mẽ đi vào cốt lõi của lòng tin này, Hội Thánh trải qua dòng lịch sử của mình, đã nghe đến nhiều lần rồi. Đây cũng là một quy luật tất yếu cho một đức tin lớn mạnh. Trong những thời kỳ khủng hoảng, vẫn luôn luôn nhờ việc đào sâu đức tin, nên mới nảy sinh những canh tân lớn lao về đạo đức, về đời sống thiêng liêng, cùng với những phong trào canh tân thần học và phương pháp làm việc tông đồ.
Mỗi thời đại các kẻ tin đều được mời gọi suy nghĩ đặc biệt để nắm bắt được ý nghĩa Lời Chúa nói với họ hôm nay. Có thế ta mới hiểu được tại sao mầu nhiệm đức tin về toàn thể, vẫn là điều tăm tối đối với ta, nếu như ta không nhất quyết chiêm ngắm mầu nhiệm ấy từ trung tâm là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã tỏ mình và nộp mình chịu chết trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

